Bảo tồn, phát huy di sản văn hoá Hải Vân quan
27/05/2025Hải Vân quan tọa lạc trên núi Hải Vân thuộc địa giới hành chính của thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, thành phố Huế và phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Qua các giai đoạn lịch sử, Hải Vân quan luôn là vị trí xung yếu, chiến lược cần phải khống chế để tập kết quân đội, đặt đồn kiểm soát cả đường bộ lẫn đường thủy của các triều đại phong kiến Việt Nam. Ngày nay, nơi đây trở thành một cụm di tích nổi tiếng, một điểm du lịch lý tưởng thu hút đông đảo du khách đến tìm hiểu, nghiên cứu về những giá trị văn hóa, lịch sử gắn liền với Hải Vân quan cũng như được ngắm nhìn vẻ đẹp từ trên cao của vịnh Lăng Cô, thành phố Đà Nẵng và nơi khởi đầu một trải nghiệm trên cung đường đến với thành phố Huế - thành phố di sản, thành phố festival của Việt Nam.
Ví trí, vai trò nối kết lịch sử Nam tiến và thống nhất đất nước qua các triều đại phong kiến
Vùng núi rừng Hải Vân được biết đến là một phần của lãnh thổ Đại Việt từ năm 1306 sau khi vua Chế Mân dùng Châu Ô, Châu Rí để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân em gái của vua Trần Anh Tông. Năm 1307, hai Châu này được vua Trần Anh Tông cho đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu (núi Hải Vân thuộc Hóa Châu). Dưới triều đại nhà Trần, núi Hải Vân được xem như là bức tường thành bảo vệ hùng vĩ, án ngữ ở miền đất phương Nam vì đặc điểm địa hình tự nhiên che chắn cho một vùng không gian rộng lớn. Đến thời nhà Hồ (1400 - 1407), khu vực này diễn ra nhiều cuộc giao tranh ác liệt trong quá trình mở rộng biên cương lãnh thổ của nhà nước Đại Ngu. Phải đến sau lần Nam chinh đại thắng của Vua Lê Thánh Tông (năm 1471), Hải Vân mới thực sự là khu vực hết tranh chấp, thuộc quyền kiểm soát của người Việt và trở thành ranh giới của xứ Thuận Hóa và xứ Quảng Nam.
Sau thắng lợi trước nhà Tây Sơn, năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long và chọn Huế làm Kinh đô. Việc vua Gia Long chọn Huế làm Kinh đô của đất nước thống nhất đã khẳng định vị thế, địa thế chiến lược, nơi hội tụ các yếu tố phong thủy cũng như tự nhiên của vùng đất này và Hải Vân Quan là một trong những vị trí phòng thủ có vai trò đặc biệt quan trọng của Kinh thành Huế để nghiệp đế vương muôn đời vững chắc. Nhận thức được tầm quan trọng của Hải Vân quan trong hệ thống phòng thủ Kinh đô Huế, đầu năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), vua Minh Mạng đã cho xây đắp cửa ải này một cách quy mô ở đỉnh núi Hải Vân. Hải Vân quan do phủ Thừa Thiên và trấn Quảng Nam thuê nhân dân địa phương cùng thực hiện trong vài tháng. Công trình gồm hai cửa quan ở phía trước và ở phía sau (ngạch trước viết ba chữ Hải Vân quan, ngạch sau viết sáu chữ Thiên hạ đệ nhất hùng quan). Kích thước và kết cấu của các cửa quan “cửa trước bề cao và bề dài đều 15 thước, bề ngang 17 thước 1 tấc; cửa sau bề cao 15 thước, bề dài 11 thước, bề ngang 18 thước 1 tấc; cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc; hai bên tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau liền nhau. Sau khi công trình hoàn thành, triều đình đã tiến hành phân định việc quản lý, điều động lực lượng binh lính và đưa trang bị vũ khí đến trấn giữ“phái biền binh 4 đội Hữu sai và 2 đội ứng sai chở súng ống đến để đấy (súng quá sơn bằng đồng 5 cỗ, ống phun lửa 200 ống, pháo thăng thiên 100 cây và thuốc đạn theo súng theo viên tấn thủ đóng giữ. Chuẩn định từ Hải Vân trở ra Bắc thuộc quản hạt Thừa Thiên, từ ngoài Hải Vân trở vào Nam thuộc quản hạt Quảng Nam”. Trong thời gian trị vì của mình (1820 - 1840), vua Minh Mạng đã nhiều lần cho duy tu, sửa chữa công trình, đồng thời tăng cường binh lính đồn trú, đặt thêm các chức quan, kiện toàn phương thức quản lý và bổ sung các trang thiết bị quân sự phục vụ cho việc canh phòng tại Hải Vân Quan như sai các quân Thị nội, Thần sách đều cử một Suất đội và 50 biền binh đi thú Hải Vân quan, mỗi tháng thay phiên một lần vào năm 1829; đặt thêm chức Hiệp thủ Hải Vân quan vào năm1830; đặt thêm 1 Phòng thủ uý ở ải Hải Vân (trước đặt 1 viên). Lệ trước: biền binh trú phòng, mỗi tháng 1 lần thay phiên, còn Phòng thủ uý đóng giữ mãi. Đổi lại: biền binh, 15 ngày một lần thay phiên; Phòng thủ uý 1 tháng một lần thay phiên vào năm 1836; cấp kính thiên lý, kính vạn lý cho đồn Hải Vân Quan để quan sát cửa biển từ xa vào năm 1840... Vua Minh Mạng đặt yêu cầu nghiêm ngặt trong việc thực thi các quân lệnh, đề cao tính kỷ luật đối với các lực lượng đồn trú cũng như quản lý Hải Vân quan, nếu vi phạm sẽ ngay lập tức bị triều đình trừng phạt theo quy định: “Phòng tấn ở ải Hải Vân được đặt ra, là cốt để trông coi thuyền tàu ở ngoài biển. Lại kính thiên lý được ban phát là để dùng trông xa cho rõ mà lại xem xét không đúng như thế. Vậy những người đóng lâu ở tấn sở ấy đều phải đánh ngay 100 trượng, đóng gông 10 ngày”; “Trạm Hải Vân quan đệ tờ phiến tâu về Kinh, chậm đến 2 giờ, phu trạm đi đường đều bị quở trách phạt trượng... khi Hải Vân quan phải đệ tờ tấu, đều là việc khẩn yếu cả, hễ để chậm trễ giờ khắc, thì sẽ bị trị tội nặng thêm bậc nữa”... Cùng với đó, để làm nền tảng cho việc quản lý Hải Vân quan một cách vững bền, lâu dài, vua Minh Mạng đã đặc biệt quan tâm, chú trọng đến việc ổn định dân sinh, chế độ đãi ngộ và chăm lo đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng tôn giáo để kêu gọi, khuyến khích người dân tổ chức khai hoang, mở rộng sản xuất. Những lần vi hành, ngự giá đến Hải Vân quan, vua Minh Mạng đều ban thưởng, động viên cho người dân địa phương sinh sống tại vùng núi hiểm trở này và những điều đó đã được được Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi lại cụ thể như sau: “Ngày Đinh Dậu, xa giá qua núi Hải Vân. Thưởng cho dân ở trên núi mỗi nhà 1 lạng bạc” (1825); “Trong kinh kỳ mưa lụt, nước lên to. Ở các cửa biển Thuận An và Hải Vân quan, nhà cửa tài sản của quân, dân bị trôi mất nhiều. Vua sai chia ra từng hạng, chẩn cấp cho” (1831); Lập đền thờ thần núi Hải Vân “Núi Hải Vân là núi rất có tiếng ở nơi kỳ điện, thực là đất thiêng, chuẩn cho xây dựng đền thờ thần ở núi ấy về giới phận phủ Thừa Thiên, do Kinh doãn thuê dân làm, hằng năm đến tế vào tháng Trọng Xuân (sau tế Nam Hải Long vương 1 ngày). Khi vua có đi tuần lúc đi, lúc về, đi qua đều sai quan đến tế một lần” (1839)...
Như vậy, Hải Vân quan là cửa ải có từ thời Trần và được các triều đại phong kiến về sau hết sức quan tâm, ngày càng được củng cố, tăng cường đặt quan phái lính, xây dựng các công trình phụ trợ để biến nơi đây trở thành khu vực phòng thủ kiên cố kiểm soát con đường thiên lý Bắc - Nam. Vua Minh Mạng là người đã ban hành những chính sách quản lý, ổn định dân sinh mang tầm nhìn chiến lược để kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả của ải này và đưa Hải Vân quan lên một tầm cao mới, trở thành một pháo đài quân sự phòng phủ từ xa hữu hiệu cho Kinh đô Huế, một trong những quan ải hùng tráng nhất của vương triều nhà Nguyễn.
Những nỗ lực hợp tác của hai thành phố để vinh danh, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn liền với Hải Vân quan
Với vị trí, vai trò mang tầm chiến lược vô cùng quan trọng, đã có nhiều ghi chép, công trình nghiên cứu chi tiết, cụ thể về lịch sử, văn hóa, quân sự, kiến trúc nghệ thuật, địa lý, môi trường... gắn liền với Hải Vân quan qua các thời kỳ trong các thư tịch cổ, bản đồ, đặc biệt là các tài liệu dưới Triều Nguyễn. Qua đó, đều khẳng định những giá trị di sản văn hóa trường tồn của Hải Vân quan xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Do vậy, từ năm 1997, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã triển khai công tác nghiên cứu lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích đối với Hải Vân quan nhưng đáng tiếc là lúc đó còn một số vướng mắc, chưa đồng thuận về địa giới hành chính giữa hai địa phương và chưa có sự hướng dẫn của Luật Di sản văn hóa cùng các văn bản kèm theo nên công tác lập hồ sơ phải tạm dừng lại. Đến tháng 11 năm 2016, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên Huế trước đây, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, UBND huyện Phú Lộc và Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Đà Nẵng, UBND quận Liên Chiểu cùng các cơ quan, đơn vị liên quan đã có nhiều phiên làm việc, trao đổi để đi đến thống nhất phải sớm cùng nhau hợp tác xây dựng hồ sơ khoa học và tham mưu lãnh đạo hai địa phương đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia đối với Hải Vân quan.
Sau gần 5 tháng với tinh thần đoàn kết, tập trung làm việc cao độ, các cơ quan quản lý, đơn vị chuyên môn của hai địa phương đã hoàn thiện bộ hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích Hải Vân quan theo đúng quy định để trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đến ngày 14 tháng 4 năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 1531/QĐ-BVHTTDL xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia Hải Vân quan. Sự kiện này đánh dấu đây là di tích quốc gia đầu tiên được xếp hạng của cả nước do hai địa phương cấp tỉnh cùng nghiên cứu lập, trình hồ sơ khoa học và cùng phân công nhau quản lý, phát huy giá trị sau khi được xếp hạng.
Tại thời điểm được xếp hạng vào năm 2017, hiện trạng khu vực di tích Hải Vân quan không còn gìn giữ được toàn vẹn kiến trúc như trước đây, mà chỉ còn lại rõ nét 2 cụm công trình kiến trúc chính là Hải Vân quan và Thiên hạ Đệ nhất Hùng Quan. Những hạng mục công trình phụ trợ khác như Trú Sở (nơi làm việc và sinh hoạt của quan Trấn thủ), Vũ Khố (nhà kho chứa hỏa dược, diêm tiêu), hệ thống tường thành, bậc cấp đã phần lớn bị hủy hoại và xuống cấp, nghiêm trọng; xung quanh khu vực không đảm bảo mỹ quan. Đó là thách thức không nhỏ đối với chính quyền hai thành phố trong việc tái hiện lại những giá trị vốn có trước đây của Hải Vân quan để bảo tồn, phát huy hiệu quả một trong những di sản văn hóa tiêu biểu của dân tộc cũng như phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp Nhân dân và du khách quốc tế. Tuy nhiên, với tinh thần đầy trách nhiệm, quyết tâm, quyết liệt nhằm thực hiện được những mục tiêu đó, Sở Văn hóa và Thể thao hai địa phương, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã cùng nhau thực hiện các thủ tục và phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia triển khai, hoàn thành công tác khai quật khảo cổ tất cả các hạng mục công trình tại khu vực di tích để phục vụ công tác nghiên cứu trước khi thực hiện các bước tiếp theo trên thực địa. Trên cơ sở khoa học của kết quả khai quật khảo cổ và sau thời gian tham vấn, tiếp thu ý kiến các chuyên gia, nhà nghiên cứu, Nhân dân địa phương, dự án “Bảo tồn, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích Hải Vân quan” với tổng mức đầu tư hơn 42 tỷ đồng từ nguồn ngân sách của hai địa phương (thành phố Huế 50%, thành phố Đà Nẵng 50%) đã được khởi công vào ngày 19 tháng 12 năm 2021. Đây là dự án có quy mô, đã tu bổ, tôn tạo, phục dựng được tổng thể các hạng mục công trình gắn liền với Hải Vân quan như: Hải Vân quan, Thiên hạ Đệ nhất Hùng quan, đoạn đường nối Hải Vân quan và Thiên hạ Đệ nhất Hùng quan, hệ thống tường thành; các chòi quan sát hướng Đông Nam và hướng Tây Bắc, cửa ngách nhỏ đi ra phía Tây, các pháo nhãn, tường che, các ụ đặt pháo đoạn tường phía Nam, nhà Trú Sở, nhà Vũ Khố… Đến ngày 21 tháng 12 năm 2024, dự án đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng và đón tiếp khách du lịch. Đây lại là một dấu mốc lịch sử nữa khi di tích Hải Vân quan “được hồi sinh” thông qua sự hợp tác đầy hiệu quả của chính quyền thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng.
Phát huy từ những kết quả đạt được, các cơ quan chức năng của hai thành phố đã và đang tiếp tục phối hợp xây dựng các kế hoạch, phương án nhằm tăng cường, đẩy mạnh hợp tác hơn nữa trong việc quản lý, khai thác, phát huy giá trị di tích Hải Vân quan trong các giai đoạn tiếp theo. Hiện nay, đã phối hợp xây dựng và tổ chức lấy ý kiến về các dự thảo: Kế hoạch phối hợp quản lý và phát huy giá trị di tích quốc gia Hải Vân quan; Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích Hải Vân quan; Xây dựng mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia Hải Vân quan. Cùng với đó, sẽ tiến hành xây dựng Đề án về quy hoạch cảnh quan, hạ tầng phụ trợ, bãi đỗ xe... để phục vụ, khai thác du lịch tại khu vực di tích.
Về lâu dài, ngoài những nội dung nêu trên, để quản lý, khai thác và phát huy giá trị di tích Hải Vân quan một cách bền vững, mang tính định hướng chiến lược lâu dài, thiết nghĩ hai địa phương cần phải phối hợp nghiên cứu triển khai đồng bộ thêm một số nhiệm vụ sau: (1) Thu thập, bổ sung thêm tài liệu cho hồ sơ khoa học di tích Hải Vân quan để báo cáo, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chính phủ nâng cấp xếp hạng cho Hải Vân quan thành di tích cấp quốc gia đặc biệt nhằm tôn vinh xứng tầm những giá trị gắn liền với công trình; (2) Lập hồ sơ Quy hoạch tổng thể tu bổ, tôn tạo, bảo quản và phục hồi di tích Hải Vân quan gắn với phát triển du lịch bền vững để định hướng, đề xuất các dự án thành phần, phân kỳ đầu tư, thứ tự ưu tiên đầu tư... tạo thành điểm đến du lịch hấp dẫn của miền Trung và cả nước; (3) Tăng cường tổ chức tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá hình ảnh, những giá trị di sản văn hóa gắn liền với di tích Hải Vân quan trên các phương tiện thông tin, nền tảng mạng xã hội; (4) Xây dựng tour, tuyến du lịch kết nối các di sản văn hóa giữa hai thành phố và các tỉnh lân cận, trong đó, xác định Hải Vân quan là một điểm kết nối quan trọng, là một điểm dừng chân không thể thiếu trên “Con đường di sản miền Trung”.
