• Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Thông tin chung
    • Chức năng
    • Nhiệm vụ & quyền hạn
    • Cơ cấu tổ chức
    • Sơ đồ tổ chức
    • Danh bạ đơn vị
    • Phân công nhiệm vụ
  • Tin tức & sự kiện
    • Tin trong nước
    • Tin trong tỉnh
    • Tin quốc tế
  • Văn hóa
    • Di sản văn hóa
    • Văn hóa cơ sở
    • Bảo tàng
    • Nghệ thuật biểu diễn
    • Mỹ thuật - Nhiếp ảnh - Triển lãm
    • Thư viện
    • Điện ảnh
    • Quảng cáo
  • Thể dục - Thể thao
    • Thể dục thể thao - quần chúng
    • Thể thao thành tích cao - Thể thao chuyên nghiệp
  • Thông tin - Báo chí - Xuất bản
    • Thông tin tuyên truyền
    • Thông tin cơ sở - Thông tin đối ngoại
    • Báo chí- Xuất bản

Danh mục

Thông tin chung

Chức năng

Nhiệm vụ & quyền hạn

Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ tổ chức

Danh bạ đơn vị

Phân công nhiệm vụ

Tin trong nước

Tin trong tỉnh

Tin quốc tế

Di sản văn hóa

Văn hóa cơ sở

Bảo tàng

Nghệ thuật biểu diễn

Mỹ thuật - Nhiếp ảnh - Triển lãm

Thư viện

Điện ảnh

Quảng cáo

Thể dục thể thao - quần chúng

Thể thao thành tích cao - Thể thao chuyên nghiệp

Gia đình

Các quy trình ISO

Các biểu mẫu ISO

Công khai tài chính

Kết quả chương trình, đề tài

Kết quả thanh tra, kiểm tra

Kết quả giải quyết TTHC

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Thông tin tuyên truyền

Thông tin cơ sở - Thông tin đối ngoại

Báo chí- Xuất bản

Thông tin tư liệu

Thông tin tuyên truyền

KỶ NIỆM 300 NĂM NGÀY SINH DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN (1726 – 2026)
28/07/2026
Aa
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026)

Lê Quý Đôn, tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh năm 1726 trong một gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ngay từ nhỏ, Ông nổi tiếng thông minh, ham học và được người đời ca ngợi là "thần đồng". Năm 17 tuổi, Ông đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hội; năm 26 tuổi đỗ đầu kỳ thi Đình, trở thành Bảng nhãn dưới triều Lê - Trịnh. Từ năm 1752, Lê Quý Đôn bước vào con đường làm quan và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Dù ở cương vị nào, Ông cũng luôn thể hiện phẩm chất của một vị quan thanh liêm, mẫn cán, gần dân, hết lòng vì nước, vì dân, luôn mong muốn xây dựng một đất nước ổn định, thịnh trị và Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Không chỉ là một vị quan tài năng, Lê Quý Đôn còn là một học giả kiệt xuất với khối lượng trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, triết học, văn học, giáo dục, kinh tế, nông nghiệp, thiên văn, y học... Những công trình tiêu biểu như Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, Toàn Việt thi lục, Quế Đường thi tập... đã trở thành những di sản học thuật quý giá của dân tộc. Đặc biệt, Vân đài loại ngữ được đánh giá là bộ bách khoa thư tiêu biểu của Việt Nam thời phong kiến, thể hiện tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn của Ông.

Suốt cuộc đời mình, Lê Quý Đôn luôn đặt lợi ích của quốc gia và Nhân dân lên trên hết. Ông quan niệm việc học, nghiên cứu hay làm quan đều nhằm mục đích phục vụ đất nước, chăm lo đời sống Nhân dân chứ không phải để mưu cầu danh lợi cá nhân. Ông đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế, giáo dục, quản lý xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia và luôn nhấn mạnh trách nhiệm của người làm quan phải gần dân, hiểu dân, chăm lo cho cuộc sống của Nhân dân. Tinh thần "dĩ công vi thượng", lấy lợi ích của đất nước và Nhân dân làm mục tiêu phụng sự đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Ông.

Lê Quý Đôn còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII. Ông có nhiều quan điểm tiến bộ về triết học, chính trị và xã hội; khẳng định Đại Việt là quốc gia độc lập, có chủ quyền, có nền văn hiến lâu đời; đề cao lòng tự hào dân tộc, coi Nhân dân là gốc của đất nước và nhấn mạnh trách nhiệm của người cầm quyền đối với sự hưng thịnh của quốc gia. Những tư tưởng về kết hợp đức trị với pháp trị, xây dựng đội ngũ cán bộ công minh, liêm chính và nêu gương vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Là một nhà bác học lớn, Lê Quý Đôn đã nghiên cứu trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không chỉ kế thừa tri thức truyền thống, Ông còn chủ động tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của thời đại, luôn coi trọng khảo sát thực tiễn, đối chiếu tư liệu và kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Tinh thần học hỏi không ngừng, tư duy độc lập và phương pháp nghiên cứu khoa học của Ông đã góp phần đưa nền học thuật Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.

Trong lĩnh vực giáo dục, Lê Quý Đôn đề cao thực học, thực hành, phản đối lối học hình thức, giáo điều. Ông cho rằng học phải đi đôi với hành, tri thức phải được vận dụng vào thực tiễn để phục vụ xã hội. Đồng thời, Ông luôn coi trọng việc phát hiện, đào tạo và trọng dụng hiền tài, xem đây là yếu tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia. Những quan điểm ấy vẫn mang ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước hiện nay.

Với vai trò là một nhà văn hóa lớn, Lê Quý Đôn đã dành nhiều tâm huyết sưu tầm, khảo cứu và lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Thông qua các công trình của mình, Ông đã góp phần bảo tồn nhiều tư liệu quý về lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán, văn học và đời sống xã hội Việt Nam. Đồng thời, trong các chuyến đi sứ, Ông đã góp phần tăng cường quan hệ bang giao, mở rộng giao lưu học thuật, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm tri thức và văn hóa dân tộc.

Ghi nhận những cống hiến to lớn của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, ngày 31/10/2025, Đại Hội đồng UNESCO tại kỳ họp lần thứ 43 đã thông qua Nghị quyết cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của Ông. Đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan trọng của Lê Quý Đôn đối với nền văn hóa Việt Nam và nhân loại.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cùng nhiều nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới... đã xác định rõ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trên nền tảng phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, tôn vinh và phát huy giá trị di sản của danh nhân Lê Quý Đôn có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn; là cơ sở quan trọng để tiếp tục kế thừa, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Một là, phát huy tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến vì đất nước, vì Nhân dân. Lòng yêu nước, thương dân và tinh thần “dĩ công vi thượng” của Lê Quý Đôn tiếp tục là giá trị cần được kế thừa và phát huy trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, đó là trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; là ý thức đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hai là, vận dụng nhũng giá trị tư tưởng tiến bộ vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những tư tưởng của Lê Quý Đôn về vai trò của Nhân dân, về trách nhiệm của người cầm quyền, về kết hợp đức trị với pháp trị và yêu cầu xây dựng đội ngũ quan lại công minh, liêm chính, vì dân vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu, kế thừa các giá trị đó góp phần làm sâu sắc hơn yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang  tầm nhiệm vụ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Ba là, khơi dậy tinh thần học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển tri thức quốc gia. Lê Quý Đôn là tấm gương về tinh thần học tập không ngừng, tư duy độc lập, phương pháp nghiên cứu khoa học nghiêm cần và khát vọng khám phá tri thức. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc phát huy tinh thần ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bốn là, xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và trọng dụng nhân tài. Tư tưởng đề cao thực học, học đi đôi với hành và trọng dụng hiền tài của Lê Quý Đôn có giá trị sâu sắc đối với công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay. Phát huy di sản của Ông là tiếp tục xây dựng nền giáo dục thực chất, hiện đại; chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất người học; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân tài, coi đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Năm là, gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới. Những đóng góp của Lê Quý Đôn trong việc bảo tồn và phát huy nền văn hiến dân tộc là bài học có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Phát huy di sản của Ông là tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; đẩy mạnh nghiên cứu, sưu tầm, số hóa và lan tỏa di sản văn hóa; xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Sáu là, phát huy tinh thần đối thoại, tiếp thu tinh hoa nhân loại và nâng cao vị thế Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Hoạt động ngoại giao, tinh thần chủ động trong giao lưu, tiếp biến văn hóa của Lê Quý Đôn cho thấy bài học sâu sắc về sự kết hợp hài hòa giữa khẳng định bản lĩnh dân tộc và tư duy cởi mở. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần phát huy tỉnh thần chủ động học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời giữ vững bản sắc văn hóa, lợi ích quốc gia - dân tộc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn của Ông đối với lịch sử dân tộc mà còn là dịp đề nhìn nhận sâu sắc hơn những giá trị đã góp phần làm nên bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Cuộc đời, sự nghiệp và di sản của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng học tập, sáng tạo và cống hiến không ngừng vì sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị đó không chỉ góp phần làm giàu thêm nền tảng văn hóa, tri thức và sức mạnh con người Việt Nam mà còn khơi dậy động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản của Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm phụng sự Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, tận tụy; khơi dậy tinh thần học tập suốt đời, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo; xây dựng nền giáo dục thực học, trọng dụng nhân tài; gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 – 2026) là dịp để tôn vinh và tri ân một trong những nhà bác học kiệt xuất, nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục tiêu biểu và nhà văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt Nam. Với trí tuệ uyên bác, tinh thần học tập không ngừng và khát vọng cống hiến vì đất nước, Lê Quý Đôn đã để lại một di sản học thuật đồ sộ cùng nhiều giá trị tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa sâu sắc đối với lịch sử dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Ông là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, ý chí tự học, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

 

Trần Ngọc Anh Uyên

Bài viết đã đăng tải

  • Huế ban hành chính sách mới về nhuận bút, thù lao cho sản phẩm truyền thông cấp xã (15/07/2026)
  • Định mức hỗ trợ hoạt động sáng tác của văn nghệ sĩ tại các trại sáng tác (08/07/2026)
  • Thành phố Huế phát động Cuộc thi trực tuyến Tìm hiểu kỹ năng phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng năm 2026 trên nền tảng Hue-S (30/06/2026)
  • Một số điểm mới của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 (29/06/2026)
  • Giải thưởng thường niên truyền thông về quyền con người tại Việt Nam (17/06/2026)
  • Hưởng ứng tham gia Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ XII (17/06/2026)
  • Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy 2025 (17/06/2026)
  • Hướng dẫn Tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII nhiệm kỳ 2026 - 2031 (15/06/2026)
  • Chương trình hành động số 33-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (11/06/2026)
Trang 1/269

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Huế

Địa chỉ: 08 Lý Thường Kiệt, phường Thuận Hoá, thành phố Huế

Số điện thoại: 0234.3823024

Email: svhtt@hue.gov.vn

Website: svhtt.hue.gov.vn

Kết nối với chúng tôi

Trực tuyến: 1 khách

Tổng truy cập: 0 khách

Ghi nguồn từ https://svhttdl.hue.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này